Mai An Tiêm vốn là người từ phương xa, được đưa vào hầu vua Hùng. Nhờ tháo vát, chàng có nhà cửa, vợ con và của cải. Nhưng khi An Tiêm nói rằng phúc lộc mình có là do mệnh và công sức, nhà vua cho đó là lời kiêu bạc, bèn đày cả gia đình ra một hòn đảo hoang ngoài biển. Trước gió mặn, cát trắng và số lương thực ít ỏi, người vợ lo sợ không qua khỏi. An Tiêm…
Đế Minh đi tuần phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh thì gặp Vụ Tiên Nữ và sinh ra Lộc Tục. Thấy người con thông minh, ông muốn trao ngôi phương Bắc, nhưng Lộc Tục nhường lại cho anh và nhận cai quản miền Nam. Từ đó Lộc Tục xưng Kinh Dương Vương, đặt quốc hiệu Xích Quỷ. Kinh Dương Vương không chỉ đứng trên một miền đất. Ông đi xuống thủy phủ, kết duyên với Long Nữ,…
Khi ngôi đền cũ của vua Ân được sửa lại, một người con của họ Thôi được dẫn đến những tầng sâu của Giếng Việt. Trước đó, chàng từng gặp Ma Cô trong một hội lớn. Bà hiện ra dưới dáng người áo quần rách rưới, vô ý làm vỡ một vật quý rồi bị đám đông xua đánh. Chỉ mình chàng dừng lại cứu. Ma Cô không giải thích thân phận, chỉ trao một bó ngải và dặn giữ lấy. Về…
Lạc Long Quân, con của Kinh Dương Vương và Long Nữ, trị dân ở miền nước. Âu Cơ thuộc giống Tiên ở núi cao. Khi hai người gặp nhau, họ kết duyên rồi Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng; từ trăm trứng nở thành trăm người con trai khỏe mạnh, không cần bú mớm mà lớn rất nhanh. Nhưng hai dòng giống không thể mãi ở cùng một nơi. Lạc Long Quân nói mình thuộc thủy tộc,…
Sau cuộc chia con của Lạc Long Quân và Âu Cơ, người con trưởng được lập làm Hùng Vương. Nhà vua đặt quốc hiệu Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu, chia đất thành mười lăm bộ và đặt các chức để cùng coi việc nước. Dưới trật tự ấy là một đời sống đang thành hình: nhà sàn dựng trên vùng ẩm, người dân trồng lúa, dùng tre gỗ, đi thuyền, xăm mình để hòa với sông nước,…
Tranh đang được chỉnh nhẹ theo bản Art Direction 2.1.
Già La Đồ Lê đến ở chùa Phúc Nghiêm. Man Nương, một cô gái trong vùng, chăm lo việc chùa và giữ lòng kính ngưỡng. Từ một chuỗi sự việc kỳ lạ, nàng mang thai rồi sinh một đứa trẻ. Người thầy đưa đứa bé gửi vào thân một cây lớn bên sông, đồng thời trao cho Man Nương cây gậy có thể gọi nước khi hạn hán. Nhiều năm sau, bão làm cây đổ trôi về bến. Dân làng cố kéo…
Tranh đang được chỉnh nhẹ theo bản Art Direction 2.1.
Tân và Lang là hai anh em giống nhau đến mức người ngoài thường nhầm. Sau khi cha mẹ mất, họ nương tựa nhau và cùng theo học một thầy. Người thầy có con gái. Nàng thử phân biệt hai người rồi chọn kết duyên với Tân. Từ ngày anh có vợ, Lang cảm thấy mình bị đẩy ra khỏi mối gắn bó cũ. Một lần người vợ nhận nhầm Lang là chồng, sự ngượng ngập khiến khoảng cách…
Ở làng Phù Đổng có một đứa trẻ lên ba vẫn chưa biết nói, biết cười. Khi quân Ân tràn tới, sứ giả đi khắp nơi tìm người cứu nước. Nghe tiếng rao, đứa trẻ bỗng cất lời, xin vua rèn ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt. Từ đó cậu ăn bao nhiêu cũng không no, lớn nhanh đến mức dân làng phải cùng góp gạo nuôi. Ngày binh khí được đưa tới, Gióng vươn thành tráng sĩ, mặc…
Sơn Tinh tìm đến núi Tản Viên, học cách làm chủ địa hình và trở thành vị thần bảo hộ miền núi. Khi vua Hùng muốn chọn chồng cho Mỵ Nương, Sơn Tinh và Thủy Tinh cùng đến. Nhà vua đặt sính lễ khó tìm và hẹn ai mang đủ trước sẽ được đón nàng. Sơn Tinh đến sớm, rước Mỵ Nương về núi. Thủy Tinh đến sau, nổi giận dâng nước, gọi mưa gió đuổi theo. Nước sông tràn lên…
Dương Không Lộ sinh trong một gia đình làm nghề chài lưới. Ông từng lênh đênh theo sông nước, biết rõ nhịp thủy triều và sự bấp bênh của một đời sống gửi mình cho dòng chảy. Đến một lúc, ông bỏ nghề cá, mặc áo vải, ăn chay và xuất gia. Cùng Nguyễn Giác Hải, ông tìm nơi vắng để tu tập, rời tiếng chợ và những đòi hỏi của danh lợi. Truyền thuyết kể Không Lộ có…
Tranh đang được vẽ lại theo bản Art Direction 2.1; bức hiện tại là bản cũ.
Thủy Tinh đến cầu hôn Mỵ Nương cùng lúc với Sơn Tinh. Cả hai đều có phép khiến vua Hùng khó chọn, nên nhà vua đặt sính lễ và hẹn người đến trước. Sơn Tinh mang đủ trước, đưa Mỵ Nương về núi. Khi Thủy Tinh tới, lễ cưới đã đi xa. Không chấp nhận mất phần mình muốn, Thủy Tinh gọi gió, dâng sông, mở những dòng nước lớn đuổi theo. Sơn Tinh nâng đất và chống giữ.…
Khi Cao Biền dựng La Thành, ông xem địa thế, đo sông núi và tin rằng mọi linh khí đều có thể được đặt dưới bùa phép. Một ngày tháng sáu, nước dâng cao. Thuyền nhẹ của Biền đi vào nhánh sông ôm lấy thành thì gặp một cụ già râu tóc bạc phơ đang tắm giữa dòng. Cụ tự xưng là Tô Lịch, nói nhà mình ở ngay trong sông, rồi vỗ nước làm mù trời và biến mất. Buổi sớm…
Tranh đang được vẽ lại theo bản Art Direction 2.1; bức hiện tại là bản cũ.
Từ Đạo Hạnh mang nặng mối thù vì cha bị hại. Ông tìm học phép, tụng chú và dồn ý chí vào việc trả thù Đại Điên. Khi đối phương chết, mục tiêu từng chi phối đời ông bỗng mất đi, để lại một khoảng trống không dễ lấp. Đạo Hạnh quay sâu hơn vào việc tu tập, đối diện câu hỏi về cái tâm thật phía sau quyền năng và sân hận. Truyền thuyết kể ông đạt chỗ thấy biết…
Tranh mới đang được phác theo bản Art Direction 2.1; bức hiện tại là bản cũ.
Ngày xưa có cây chiên đàn khổng lồ, bóng phủ một vùng. Khi cây chết, tinh khí không tan mà hóa thành Xương Cuồng, một mộc tinh dữ. Dân quanh vùng sợ hãi, phải nộp người làm vật hiến tế. Nhâm Ngao từng tìm cách trừ hại nhưng thất bại và chết, khiến nỗi sợ càng bám sâu; một tập tục bạo lực dần được coi như điều không thể thay đổi. Nhiều năm sau, Du Văn Tường…
Bố cục đang thử nghiệm; bức hiện tại chưa phải bản chốt.
Khi vua Hùng muốn chọn người nối ngôi, các hoàng tử được lệnh tìm lễ vật quý để dâng tổ tiên. Những người anh đi khắp nơi săn sơn hào hải vị. Lang Liêu, con của người mẹ ít được sủng ái, nghèo hơn và không có thế lực, chỉ biết nhìn vào thứ gần mình nhất: hạt gạo do dân làm ra. Trong giấc mộng, chàng được chỉ rằng không gì quý bằng gạo, vì gạo nuôi sống con…
Sau khi An Dương Vương xây được Loa Thành và có nỏ thần, Triệu Đà nhiều lần đánh không thắng. Ông bèn xin kết thông gia, cho con là Trọng Thủy cưới Mỵ Châu và ở rể. Trong đời sống gần gũi, Trọng Thủy dò hỏi bí mật giữ thành. Mỵ Châu tin chồng, cho xem cơ cấu nỏ. Chàng làm một lẫy giả để đánh tráo, rồi xin về thăm cha. Trước khi đi, Trọng Thủy hỏi nếu binh…
An Dương Vương chiếm đất Văn Lang, dựng nước Âu Lạc và xây thành ở Cổ Loa. Nhưng thành cứ xây ban ngày lại đổ ban đêm. Rùa Vàng xuất hiện, chỉ ra những thế lực phá hoại và giúp nhà vua hoàn tất tòa thành xoắn. Trước khi đi, Rùa cho một chiếc móng làm lẫy nỏ; nhờ nỏ ấy, quân Triệu Đà không thể tiến vào. Được bảo vệ quá lâu, nhà vua tin rằng tường thành và vũ…
Tranh đang được vẽ lại theo bản Art Direction 2.1; bức hiện tại là bản cũ.
UNESCO - Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt · VietnamPlus - Liễu Hạnh, Thánh Mẫu tối linh trong văn hóa Việt
Các truyền bản về Mẫu Liễu Hạnh không hoàn toàn giống nhau, nhưng cùng mở bằng một cuộc giáng trần. Nàng vốn thuộc thiên giới, thường được gọi là Quỳnh Hoa. Sau khi làm vỡ chén ngọc của vua cha, nàng phải xuống cõi người. Ở trần gian, nàng sống một đời có gia đình, nếm niềm vui và mất mát như người thế tục rồi trở về trời khi duyên đời kết thúc. Nhưng cõi…
Tranh đang được vẽ lại theo bản Art Direction 2.1; bức hiện tại là bản cũ.
Mỵ Châu lớn lên trong Loa Thành, nơi nỏ thần khiến mọi cuộc tấn công đều thất bại. Khi Trọng Thủy đến làm rể, nàng tin cuộc hôn nhân đã biến kẻ thù thành người nhà. Trong sự gần gũi ấy, nàng cho chồng xem lẫy nỏ. Trước lúc chàng rời đi, hai người hẹn rằng nếu loạn lạc, nàng sẽ rắc lông ngỗng để chàng tìm theo. Quân Triệu trở lại. Nỏ không còn linh nghiệm. Mỵ…
Man Nương đến chùa Phúc Nghiêm phụng sự Già La Đồ Lê. Sau một biến cố kỳ lạ, nàng sinh một đứa trẻ và trao cho vị sư. Đứa bé được gửi vào thân cây dung lớn bên sông. Trước khi rời đi, Già La Đồ Lê trao Man Nương cây gậy, dặn rằng khi hạn hán hãy cắm xuống đất để gọi nước. Năm ấy nắng kéo dài, ruộng nứt, người và vật đều kiệt. Man Nương đem gậy chạm đất; nước…
Tranh đang được vẽ lại theo bản Art Direction 2.1; bức hiện tại là bản cũ.
An Dương Vương xây thành ở Cổ Loa nhưng cứ đắp xong lại đổ. Nhà vua lập đàn cầu, Rùa Vàng từ nước hiện lên, nhận lời ở lại giúp. Ban đêm, Rùa chỉ cho vua thấy những lực phá hoại ẩn sau vẻ bình thường của núi, quán và người. Những nút thắt ấy bị gọi tên và tháo gỡ, thành mới đứng vững. Khi rời đi, Rùa trao một chiếc móng để làm lẫy nỏ. Nhưng lời giúp luôn kèm…
Trong lớp truyện họ Hồng Bàng, Việt Thường là một trong những miền thuộc thế giới Văn Lang. Đến thời nhà Chu ở phương Bắc, sứ giả Việt Thường đi qua nhiều đất, mang theo một con chim trĩ trắng làm lễ vật. Đường xa đến mức lời nói phải qua nhiều lần phiên dịch mới hiểu nhau. Sứ giả giải thích phong tục phương Nam và nói rằng nhiều năm trời đất yên, không có…
Tranh đang được vẽ lại theo bản Art Direction 2.1; bức hiện tại là bản cũ.
Bàn tay vô danh và mầm tre lửa. Sau nhiều ngày ẩm lạnh, một người giữ rừng thấy sét chạm vào đốt tre non. Người ấy che tia lửa khỏi mưa rồi mang nó về làng. Mọi người chưa biết ngọn lửa sẽ thành bếp, đuốc hay vũ khí; họ chỉ biết rằng nó sẽ tắt nếu không có ai chọn cách nuôi. Át Tre nằm ở khoảnh khắc ý tưởng vừa có sức nóng nhưng chưa có hình hài. Cảm hứng mở…
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Người giữ vọng tre — Hai ngọn đuốc, hai đường chân trời. Làng đã an toàn nhưng chân trời gọi người canh đi xa hơn. Anh phải chọn nơi gửi ngọn lửa thứ hai.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Ba người mở cảng — Ba cột buồm qua Cảng Phật Đào. Đường biển đã thông; đoàn thuyền không còn nhìn bờ cũ mà chờ tín hiệu từ phía xa. Một cánh buồm đang quay về là thành quả đầu tiên.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Bốn gia đình dựng cổng hội — Cổng tre khép thành mái nhà chung. Sau mùa mở đất, bốn gia đình dựng cổng không để ngăn người ngoài mà để đánh dấu nơi có thể trở về.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Năm trai làng tranh lửa — Cuộc đấu gậy tre giữa sân sấm. Cuộc tranh tài không nhằm loại đối thủ mà tìm đội hình mạnh nhất. Chỉ khi va chạm thành nhịp chung, quả cầu lửa mới đứng yên.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Người mang cờ chiến thắng — Sáu lá cờ qua cổng làng. Người trở về hiểu uy tín mới chỉ là vốn cho chặng tiếp. Anh trao vòng lá cho đứa trẻ giữ cổng thay vì đội lên đầu.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Người giữ đèo — Bảy bậc tre trước bóng chồn. Không phải mọi kẻ tiến tới đều là yêu quái, nhưng người giữ đèo phải bảo vệ ranh giới cho đến khi phân biệt thật - giả.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Lính canh bị thương — Chín đốt tre còn đứng. Anh vẫn đủ sức giữ cổng, miễn biết nghỉ và tin người thay ca. Kinh nghiệm không được biến thành nghi ngờ mọi tiếng lá.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Người gánh đuốc — Mười bó tre trên đường ngập. Anh gom mọi nhiệm vụ vì sợ lửa chung tắt. Nhìn thấy những bàn tay, anh hiểu chia tải không phải bỏ trách nhiệm.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Tân Hỏa - người học lửa — Con chim xanh trong ống tre. Tân Hỏa chưa biết con chim dẫn tới đâu nhưng đủ tò mò để theo dấu. Sai lầm đầu tiên chỉ cháy một góc áo, không tắt ham học.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Kỵ mã Sóc Sơn — Ngựa lửa qua sườn núi. Người đưa lệnh có tốc độ của bão. Chuyến đi chỉ thành công khi anh nhớ ngọn giáo cần một đích đến, không chỉ một đường lao đẹp.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Nữ chủ Lửa Làng. Đêm xuống, tiếng chồn vọng ngoài hàng muối. Người nữ chủ không đóng kín cửa rồi giữ bếp cho riêng mình. Bà chia chỗ quanh vòng lửa, giao mỗi người một việc và để ai cũng biết mình đang góp phần giữ làng. Hơi ấm trở thành một ranh giới mạnh hơn tường đá. Nữ vương Tre không cần nói lớn để chứng minh quyền lực; bà làm cho ngọn lửa của từng…
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Vua Mở Cõi — Gậy tre chỉ đường cho đoàn khai phá. Tầm nhìn lớn được chứng minh bằng hệ thống để người khác cùng đi. Ông giữ lửa ở đầu gậy nhưng trao từng đuốc xuống đoàn người.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Truyện Đầm Một Đêm - Tiên Dung và Chử Đồng Tử · Truyện Giếng Việt
Bàn tay nâng chén sen — Chén nước tràn từ giếng cổ. Sau thời gian khô cạn, nguồn nước tự tìm đường lên khi người nhận biết mở tay. Cảm xúc mới chưa cần bị ép thành tên.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Truyện Đầm Một Đêm - Tiên Dung và Chử Đồng Tử · Truyện Giếng Việt
Tiên Dung và Chử Đồng Tử — Hai chén bên bãi cát. Cuộc gặp bất ngờ chỉ thành mối liên kết khi cả hai cùng lựa chọn. Chiếc chén được trao và nhận ở cùng độ cao.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Truyện Đầm Một Đêm - Tiên Dung và Chử Đồng Tử · Truyện Giếng Việt
Ba người bạn bến trăng — Ba thuyền sen chạm mũi. Mỗi người đi từ một nhánh sông nhưng cùng đến đúng đêm hội. Niềm vui đủ rộng để gọi thêm người trên bờ bước xuống.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Truyện Đầm Một Đêm - Tiên Dung và Chử Đồng Tử · Truyện Giếng Việt
Người ngồi bên giếng — Bông sen thứ tư dưới mặt nước. Sau nhiều lời mời không phù hợp, người ấy khép lòng. Cơ hội mới chỉ hiện khi ánh mắt rời khỏi ba chiếc chén cũ.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Truyện Đầm Một Đêm - Tiên Dung và Chử Đồng Tử · Truyện Giếng Việt
Người sống sót Đầm Một Đêm — Ba chén chìm, hai chén còn. Thành quách biến mất sau một đêm. Khi đủ sức quay lại, người ấy sẽ thấy hai điều chưa mất vẫn có thể mang đi.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Truyện Đầm Một Đêm - Tiên Dung và Chử Đồng Tử · Truyện Giếng Việt
Người mơ bên hồ. Trong sương sớm, bảy đóa sen cùng mở. Mỗi bông nâng một cảnh lấp lánh: kho báu, cung điện, linh vật, quyền lực và một khuôn mặt chưa rõ. Người đứng bên hồ muốn giữ cả bảy nên chưa chạm vào bông nào. Mặt trời lên, sương bắt đầu mỏng. Người ấy hiểu rằng mọi lựa chọn đều đẹp khi cái giá còn bị giấu. Họ chạm vào một bông sen, chấp nhận để sáu ảo…
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Truyện Đầm Một Đêm - Tiên Dung và Chử Đồng Tử · Truyện Giếng Việt
Người chữa nước — Chín bát thuốc quanh nụ cười. Điều ước thành hình khi niềm vui không chỉ nằm trong bát của riêng mình. Người chữa nước cho phép mình hài lòng sau một mùa dài.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Truyện Đầm Một Đêm - Tiên Dung và Chử Đồng Tử · Truyện Giếng Việt
Gia đình bến Rồng — Mười chén dưới cầu vồng nước. Hạnh phúc không phải không có giông mà là biết mình thuộc về đâu khi giông đến. Mỗi chén mang dấu tay của một người.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Truyện Đầm Một Đêm - Tiên Dung và Chử Đồng Tử · Truyện Giếng Việt
Đồng tử Bên Giếng — Cá nhỏ nói trong chén sen. Tin nhắn từ cảm xúc thường đến dưới hình dạng kỳ quặc. Cậu học ghi nhận điều mình cảm thấy trước khi quyết định nó có hợp lý.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Truyện Đầm Một Đêm - Tiên Dung và Chử Đồng Tử · Truyện Giếng Việt
Sứ giả Dòng Lam — Lời mời đi trên lưng rồng nước. Anh mang lời cầu hòa, không mang chiến thư. Đường đi chậm vì mỗi bến đều cần được lắng nghe, nhưng chén vẫn đầy khi đến nơi.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Truyện Đầm Một Đêm - Tiên Dung và Chử Đồng Tử · Truyện Giếng Việt
Chúa Bến Nước — Ngai thuyền giữa hai dòng. Ông không dập tắt bão cũng không giả vờ mọi thứ yên. Năng lực là giữ quyết định ổn định trong khi cho phép cảm xúc được gọi tên.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Người giữ hai thoi — Hai thoi dệt chặn trước mắt. Cô trì hoãn vì cả hai lựa chọn đều có mất mát. Hạ hai thoi xuống, tiếng lá dâu sẽ cho biết hướng gió thật.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Người giữ lời thề đứt. Trước cơn mưa, ba chiếc kim đồng ghim xuyên một dải lụa đỏ. Ba người từng giữ chung một lời thề đứng quay về ba hướng, và không ai còn có thể giả rằng tấm lụa vẫn nguyên. Người ở lại tháo từng mũi kim. Họ không xóa vết rách; họ nhìn rõ nó để biết đường khâu sẽ phải đi qua đâu. Ba Dâu Tằm không ca ngợi đau khổ. Lá bài chỉ nói rằng sự…
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Người lính trong nhà tơ — Bốn cờ lụa canh giấc ngủ. Tạm rời trận tuyến là một phần của chiến lược. Trong khoảng yên, trí óc sắp lại điều không thể thấy giữa tiếng trống.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Kẻ thắng trong xưởng dệt — Năm chiếc kéo sau cuộc tranh phần. Anh thắng quyền sở hữu công cụ nhưng mất người biết vận hành. Chiến thắng buộc người xem hỏi: còn lại điều gì đáng dùng?
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Gia đình qua sông gió — Sáu cờ tơ trên thuyền lặng. Họ chưa đến nơi vui, chỉ rời vùng nguy hiểm sang nơi có thể hồi phục. Con thuyền mang nỗi buồn nhưng không để nó cầm lái.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Người lấy trộm mật đồ — Bảy thẻ tre dưới áo lụa. Mưu trí giúp tránh đối đầu, nhưng mỗi thứ mang đi để lại dấu vết. Câu hỏi không chỉ là có thoát được hay không, mà kế hoạch phục vụ ai.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Người bị trói bằng tơ — Tám sợi tơ quanh cọc dâu. Sợi tơ mỏng trông như vách đá khi cô tin mình không được phép bước. Lối ra bắt đầu từ một chuyển động nhỏ.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Người thợ thức đêm — Chín bướm đen trên màn ngủ. Lo lắng biến những sợi việc nhỏ thành đàn cánh đen. Bình minh sẽ cho thấy chỉ một guồng tơ đang thật sự mắc.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Người giữ cờ thất thủ — Mười kim đồng và bình minh. Một chiến tuyến đã kết thúc và không thể giữ bằng thêm lời thề. Khi cờ được tháo khỏi đất, vải có thể may thành vật khác.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Thư đồng Nương Dâu — Đọc chữ trong hướng bay của lá. Cậu chưa đủ kinh nghiệm để kết luận nhanh, nên sức mạnh nằm ở câu hỏi và quan sát. Mỗi lời đồn phải qua hai nguồn.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Kỵ sĩ Cờ Lụa — Phi ngựa theo lời thề trong gió. Anh bảo vệ lập trường bằng tốc độ và lý lẽ sắc. Để không thành tàn phá, anh phải nhìn người phía trước là đối thủ hay sứ giả.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Nữ quan Cắt Tơ — Một nhát kéo tháo nút oan. Bà dành lòng trắc ẩn cho sự thật hơn cho câu chuyện dễ nghe. Nhát cắt chỉ đến sau khi từng sợi đã được gọi tên.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Quan Trưởng Luật Tơ — Đo sợi trước khi phán. Quyền lực đến từ chuẩn mực nhất quán và khả năng sửa luật khi thực tế chứng minh nó sai. Kiếm vẫn trong vỏ.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Bàn tay nhận hạt lúa đồng — Hạt giống trong vòng trống. Cơ hội vật chất đến dưới dạng thứ nhỏ, nặng và có thể gieo. Giá trị chỉ thành thật khi hạt rời lòng bàn tay để chạm đất.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Người cân hai thúng — Hai thúng lúa trên bến sóng. Người buôn không làm sóng dừng, chỉ học bước theo nhịp để hàng không đổ. Khéo xoay xở vẫn cần biết lúc bỏ bớt chuyến.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Ba người dựng kho — Kho lúa ba nghề. Không ai đủ nghề để hoàn thành công trình một mình. Chất lượng xuất hiện khi ba người tôn trọng phần việc không thuộc chuyên môn mình.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Người giữ bốn chum — Bốn chum lúa khóa dưới thân. Giữ nguồn lực có thể bảo vệ mùa sau, nhưng nỗi sợ thiếu biến kho thành pháo đài. Thóc kín quá lâu cũng sẽ mốc.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Hai người qua mùa rét — Năm bông lúa sáng sau cửa đình. Khó khăn làm thế giới thu hẹp thành từng bước chân. Sự giúp đỡ ở gần, nhưng cần một người ngẩng lên và cộng đồng mở cửa.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Người chia sáu đấu thóc — Cân thóc dưới bóng trống. Cho và nhận đều có phẩm giá khi tiêu chí minh bạch. Người chia giữ lại phần giống cho vụ sau để lòng tốt không phá tương lai.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Người chờ bảy thửa — Bảy ruộng bậc dưới mây rồng. Công sức đã vào đất nhưng thời gian không thể kéo bằng ý chí. Người nông dân dùng lúc chờ để sửa bờ và chăm đúng thửa.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Nghệ nhân đúc tám đồng lúa — Tám lần gõ thành một hoa văn. Tài nghệ hình thành từ lặp lại có quan sát, không từ cảm hứng nhất thời. Sai khác nhỏ giữa tám chiếc là dấu vết học tập.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Nữ chủ vườn lúa — Chim trĩ trong khu vườn tự gây dựng. Sự sung túc của bà có dấu tay lao động và hệ sinh thái tự vận hành. Bà tận hưởng khoảng riêng mà không cần chứng minh.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Gia đình giữ kho tổ. Ba thế hệ quây quanh kho lúa khi người giữ chìa khóa đã già. Trên mặt trống, mười bông lúa nối nhau như một cây gia phả; dưới sân, trẻ nhỏ chạy giữa những chum thóc được ghi tên rõ ràng. Người già trao chìa khóa cùng cuốn sổ đã xóa những món nợ không còn công bằng. Ông không chỉ trao của cải mà còn trao cách quản, cách chia và trách…
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Tiểu đồng Hạt Giống — Đọc lịch mùa trên hạt lúa. Cậu học biến tò mò thành kỹ năng: đo đất, ghi nước, giữ giống. Ước mơ đầu tiên có trọng lượng vừa bằng một hạt thật.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Kỵ sĩ Trâu Mộng — Chuyến giống qua mưa dài. Anh không đến nhanh nhất nhưng chưa từng bỏ trạm. Khi người khác đuổi điềm lạ trên trời, anh bảo vệ thứ phải tới ruộng đúng ngày.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Nữ chủ Lúa Vàng — Bếp, ruộng và kho cùng một nhịp. Bà chăm người và nguồn lực như cùng một hệ thống sống. Sự thực tế của bà ấm, nhưng không ôm hết việc của mọi người.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Chúa Kho Đồng — Kho mở giữa bốn dòng trao đổi. Thịnh vượng được đo bằng số người sống ổn định quanh hệ thống, không bằng số khóa. Ông dùng của cải làm đường, giữ giống và chống mùa xấu.
Chưa có tranh riêng cho lá này; đang dùng phù hiệu của nhà.
Không tìm thấy hồ sơ phù hợp. Hãy thử từ khóa ngắn hơn.